Trong dòng chảy văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945, nếu Nam Cao khiến người đọc buốt lòng trước cái chết mòn mỏi của người trí thức nghèo, Ngô Tất Tố dắt ta vào bóng tối mịt mù của làng quê trước sưu cao thuế nặng, thì Vũ Trọng Phụng lại chọn một con đường hoàn toàn khác biệt: ông vung chiếc roi trào phúng quất thẳng vào bộ mặt giả tạo của xã hội thị thành, biến cái bi kịch tha hóa đạo đức thành một bản đại hài kịch cười ra nước mắt mang tên "Số Đỏ".
Khởi đăng từng kỳ trên tờ Hà Nội Báo từ mùa hè năm 1936 rồi in thành sách trọn vẹn vào năm 1938, tác phẩm đã gây nên những cơn sóng tranh luận dữ dội suốt nhiều thập niên. Người ta từng kết tội cuốn sách là "dâm thư", từng cấm đoán và gạt bỏ ngòi bút sắc lẹm của một tài năng văn chương qua đời vì bệnh lao trong cảnh bần hàn ở tuổi hai mươi bảy. Thế nhưng, thời gian – vị quan tòa công minh và khắc nghiệt nhất – đã trả lại cho Số Đỏ vị thế sừng sững của một kiệt tác trào phúng số một trong lịch sử văn xuôi nước nhà. Lần giở từng trang văn hoạt kê về cuộc đổi đời không tưởng của gã ma cạ bông Xuân Tóc Đỏ hôm nay, ta không chỉ cười vì những tình huống trào lộng bậc thầy, mà còn giật mình ớn lạnh khi nhận ra: cái xã hội chuộng hư danh, sính ngoại nửa mùa và cuồng "làm màu" mà Vũ Trọng Phụng giải phẫu cách đây gần một thế kỷ dường như vẫn đang thở chung bầu không khí với chúng ta mỗi ngày.
Từ thằng bé nhặt ban sân quần đến bậc "vĩ nhân cứu quốc" xứ Bắc Hà
Nhân vật trung tâm làm nên linh hồn của toàn bộ tác phẩm là Xuân Tóc Đỏ. Xuất thân của Xuân là đáy cùng của xã hội Hà thành thời thuộc địa: một đứa trẻ mồ côi tứ cố vô thân, không cha không mẹ, sống bờ ngủ bụi, từng đi chăn bò, trèo me hái sấu, bán thuốc lậu ở bờ hồ Hoàn Kiếm, và kiếm sống bằng nghề nhặt bóng tại sân quần vợt của rạp chiếu bóng Sầm Công. Tên gọi "Tóc Đỏ" không phải do lai Tây danh giá gì, mà chỉ vì phơi đầu trần dưới cái nắng chang chang của mùa hè xứ nhiệt đới lâu ngày khiến mái tóc xơ xác cháy hoe vàng.
Thế nhưng, điều kỳ quặc đến mức phi lý – mà lại vô cùng hợp lý trong một xã hội bệnh hoạn – là gã lưu manh vô học ấy lại từng bước leo lên đỉnh cao danh vọng: từ chân chạy việc ở sân quần vợt trở thành nhân viên tiệm may tân thời Âu hóa, rồi làm "thầy thuốc danh tiếng", thành "nhà cải cách xã hội", "giáo sư quần vợt", và cuối cùng được tôn xưng là "bậc vĩ nhân cứu quốc", được phong tặng Bắc Đẩu Bội Tinh của chính phủ bảo hộ và đón nhận sự sùng kính tuyệt đối của hàng vạn người dân xứ Bắc Hà.
Đặc sắc của ngòi bút Vũ Trọng Phụng là ông không hề biến Xuân Tóc Đỏ thành một kẻ phản diện mưu mô toan tính như Tào Tháo. Xuân thực chất chỉ là một gã cơ hội thức thời, một kẻ vô lại gặp may. Toàn bộ vốn liếng chữ nghĩa của Xuân chỉ gói gọn trong vài câu chửi thề cửa miệng học được ngoài vỉa hè: "Mẹ kiếp!", "Nước mẹ gì!", cùng vài câu quảng cáo bán thuốc lậu học mót: "Thưa các ngài, người ta sinh ra ở đời...". Thế nhưng, khi những câu nói thô thiển ấy được phát ra giữa một đám đông thượng lưu rỗng tuếch đang đói khát sự mới lạ, chúng bỗng chốc được suy tôn thành "triết lý sống bình dân", thành "tiếng nói của thời đại mới". Sự thăng tiến của Xuân Tóc Đỏ không phải là kỳ tích của tài năng cá nhân, mà là một bản cáo trạng đanh thép về sự ngu xuẩn, nhẹ dạ và thói đạo đức giả của cả một tầng lớp tư sản đang lên.
Tiệm may Âu hóa, phong trào "thể thao" và màn trình diễn của những kẻ cuồng danh
Bệ phóng đầu tiên đưa Xuân bước chân vào giới thượng lưu chính là Tiệm may Âu hóa của vợ chồng Văn Minh – nơi khởi phát của những phong trào cải cách lố lăng nhất bấy giờ. Vũ Trọng Phụng đã dựng nên một phòng trưng bày nhân vật sống động đến mức quái đản, nơi mỗi cá nhân đều là một khối ung nhọt của thói hợm hĩnh:
Đó là bà Phó Đoan – người đàn bà góa hai đời chồng (một ông quan Tây và một ông phán ta), ngoài mặt luôn mở miệng thuyết giảng về "chính chuyên", tự hào vì được chính phủ thực dân ban biển vàng "Tiết hạnh khả phong", nhưng bên trong lại nung nấu một dục vọng nhục dục cuồng loạn, sẵn sàng nâng đỡ gã trai trẻ đầu đường xó chợ để thỏa mãn cơn thèm khát xác thịt. Đó là ông TYPN (Tôi Yêu Phụ Nữ) – nhà tạo mẫu trang phục tân thời với những phát minh quần áo nực cười mang tên: "Ngây thơ", "Chinh phục", "Hở cánh tay", "Lời hứa"... nơi ranh giới giữa việc "giải phóng phụ nữ" với sự phô bày thân xác trơ trẽn bị xóa nhòa hoàn toàn nhân danh sự tiến bộ.
Và không thể không nhắc tới vợ chồng Văn Minh – những kẻ du học Pháp về với tấm bằng rởm, luôn mở miệng nói tiếng Tây bồi và coi việc "Âu hóa", "thể thao phong trào" là chiếc cần câu cơm màu mỡ nhất. Cần một kẻ làm "ma-nơ-canh sống" để quảng cáo trang phục thể thao và khiêu vũ, họ vớ ngay lấy Xuân Tóc Đỏ. Dưới bàn tay nhào nặn của truyền thông lá cải và những lời tâng bốc mù quáng, Xuân được khoác lên mình bộ vest sang trọng, xức nước hoa đắt tiền và nghiễm nhiên trở thành ngọn cờ đầu của phong trào "vận động thân thể" đang lên cơn sốt khắp Hà thành.
"Xã hội này là một sân khấu khổng lồ, nơi những kẻ có học thức thì giả dối, những kẻ quyền quý thì đồi bại, và một thằng lưu manh chỉ cần biết nói vài câu to tát là có thể dẫn dắt cả đám đông."
Qua những trang văn miêu tả tiệm may Âu hóa, Vũ Trọng Phụng đã lột trần bản chất của các "phong trào" xã hội thời bấy giờ: chúng không hề xuất phát từ nhu cầu khai dân trí hay nâng cao thể chất thực sự cho giống nòi, mà thực chất chỉ là những chiêu trò tiếp thị kinh doanh đê tiện, lợi dụng tâm lý sính ngoại của giới trọc phú để trục lợi và làm tha hóa nền tảng đạo đức gia đình truyền thống.
Đám tang cụ tổ và bản cáo trạng cười ra nước mắt về đạo hiếu thời kim tiền
Nếu phải chọn ra một trích đoạn thể hiện đỉnh cao nghệ thuật trào phúng của văn học Việt Nam thế kỷ XX, chắc chắn đó phải là chương "Hạnh phúc của một tang gia" – khi cụ cố tổ chín mươi tám tuổi của gia đình họ Hồng qua đời.
Cái chết của một bậc sinh thành lẽ ra phải là nỗi đau đớn, mất mát xé lòng của con cháu. Thế nhưng dưới ngòi bút của Vũ Trọng Phụng, cái chết ấy lại đem lại niềm "hạnh phúc vô bờ bến" cho cả một đại gia đình. Cụ tổ nằm xuống đồng nghĩa với việc chúc thư bắt đầu có hiệu lực pháp lý, món gia tài hàng vạn bạc sẽ được chia đều cho từng đứa con, đứa cháu, đứa dâu, đứa rể. Suốt mấy năm trời cụ ốm dai dẳng, cả nhà ai cũng sốt ruột mong cụ chết sớm. Đến khi Xuân Tóc Đỏ buột miệng mách lẻo chuyện cô Hoàng Hôn ngoại tình khiến cụ uất ức tắc thở, Xuân không những không bị trừng phạt mà bỗng chốc trở thành "ân nhân lớn nhất" của dòng họ!
Mỗi nhân vật trong đám tang đều mang một niềm vui sướng riêng biệt được tác giả mổ xẻ tỉ mỉ:
- Cụ cố Hồng: Người con trai trưởng tuổi ngoại lục tuần, cả đời chỉ có một ước mơ cháy bỏng là được mặc bộ đồ xô gai lụng thụng, chống gậy gõ côm cốp xuống đất, vừa đi vừa ho khạc để thiên hạ chỉ trỏ trầm trồ: "Kìa, cụ cố Hồng già thế kia mà vẫn phải chống gậy đi sau quan tài cha, thật là chí hiếu!".
- Vợ chồng Văn Minh: Mừng rỡ vì có cơ hội lăng xê những mẫu áo tang tân thời xẻ tà, quần trắng bó sát của tiệm may Âu hóa ra trước bàn dân thiên hạ.
- Cô Tuyết: Được dịp mặc bộ đồ tang mang tên "Ngây thơ" – một chiếc áo voan mỏng manh hở cả nách và nửa phần ngực – để vừa làm nhiệm vụ đưa tang ông nội, vừa ngầm thanh minh với công chúng rằng mình vẫn còn là một cô gái trong trắng, đoan trang.
- Ông Phán Mọc Sừng: Người con rể quý hóa vô cùng đắc chí vì không ngờ cái "sừng" trên đầu mình lại có giá trị kinh tế cao đến thế; nhờ Xuân tố cáo chuyện vợ ngoại tình mà ông được bố vợ chia thêm vài ngàn đồng tiền đền bù danh dự. Trong đám ma, ông vừa khóc lóc thảm thiết "Hứt! Hứt! Hứt!" để làm tròn bổn phận, vừa kín đáo dúi vào tay Xuân tờ giấy bạc năm đồng gấp tư để trả công.
Đám ma cụ cố tổ biến thành một hội chợ phô trương sự giàu sang và giả dối kệch cỡm. Đi sau linh cữu là hàng trăm vị khách sang trọng chen chúc nhau khoe huân chương, khoe râu ria, chim chuột, tán tỉnh nhau, hẹn hò nhau đi nhảy đầm. Tiếng kèn Ta, kèn Tây, kèn Bú-đích cùng tiếng gào khóc giả tạo hòa lẫn vào nhau tạo nên một khúc bi hài kịch rợn người. Đó là sự phá sản hoàn toàn của đạo hiếu Nho giáo, là sự lên ngôi của đồng tiền làm băng hoại mọi luân thường đạo lý trong gia đình Việt Nam thời kỳ tư bản hóa sơ khai.
Xuân Tóc Đỏ: Khi kẻ lưu manh gặp đúng thời đại của những kẻ xuẩn ngốc
Một câu hỏi lớn mà độc giả thường đặt ra khi đọc Số Đỏ là: Tại sao Xuân Tóc Đỏ lại có thể lừa gạt được tất cả mọi người một cách dễ dàng như vậy? Phải chăng người Hà Nội thời bấy giờ đều là những kẻ mất trí?
Câu trả lời nằm ở quy luật tâm lý xã hội mà Vũ Trọng Phụng đã nhìn thấu: Xuân không hề lừa gạt ai; chính cái xã hội ấy tự nguyện lừa gạt lẫn nhau và tự đẩy Xuân lên ngai vàng. Trong một môi trường mà ai cũng sợ bị coi là "hủ lậu", "cổ hủ", "thiếu văn minh", người ta sẵn sàng tung hô bất kỳ điều gì mới lạ mà không cần biết đúng sai. Ai cũng muốn chứng tỏ mình là người cấp tiến, nên khi Xuân nói những điều vô nghĩa, người ta tự suy diễn ra tầng ý nghĩa sâu xa để chứng tỏ mình có học; khi Xuân thể hiện sự xấc xược thô lỗ, người ta lại khen ngợi đó là "cá tính bình dân độc đáo".
Đỉnh cao sự nghiệp của Xuân đạt tới tột đỉnh trong trận đấu quần vợt giao hữu lịch sử giữa đội tuyển Bắc Kỳ và các tay vợt quán quân đến từ vương quốc Xiêm La (Thái Lan). Đứng trước nguy cơ hai nước nổ ra chiến tranh nếu tay vợt Xiêm La thua trận và mất mặt, giới chức thực dân Pháp và triều đình phong kiến đã âm thầm chỉ thị cho Xuân – lúc này đang là niềm hy vọng số một của thể thao nước nhà – phải chịu thua một cách khéo léo để giữ gìn hòa khí bang giao.
Và màn kịch kết thúc bằng một trường đoạn vĩ đại: sau khi cố tình đánh bóng hỏng để nhường chức vô địch cho nước bạn, Xuân Tóc Đỏ trèo lên một chiếc ghế cao giữa sân vận động, giơ tay ra hiệu cho hàng vạn khán giả đang sục sôi giận dữ im lặng, rồi dõng dạc mắng thẳng vào mặt đám đông quần chúng:
"Hỡi công chúng! Mi không hiểu gì cả! Mi là đồ khốn nạn! Mi chỉ biết ăn no rỗi việc rồi đến đây reo hò, chứ mi đâu biết ta đã vì nền hòa bình của hai dân tộc mà phải nuốt hận hy sinh danh dự của một người vô địch!"
Một kẻ lưu manh đứng trên bục cao chửi rủa hàng vạn đồng bào mình là "đồ khốn nạn", thế mà đám đông phía dưới – dẫn đầu là các quan chức, trí thức và báo giới – lại đồng loạt vỗ tay vang dội như sấm dậy, tung hô Xuân là "Đấng cứu tinh của giống nòi", là "Vĩ nhân hòa bình"! Sự phi lý được đẩy lên tới tột cùng cũng là lúc ngòi bút của Vũ Trọng Phụng chạm tới đỉnh cao châm biếm: một dân tộc bị nô lệ hóa không chỉ về mặt lãnh thổ, mà còn bị nô lệ hóa về mặt tư tưởng đến mức sẵn sàng quỳ lạy trước chính kẻ đang thóa mạ mình.
Nghệ thuật trào phúng bậc thầy và bi kịch ngắn ngủi của đời văn Vũ Trọng Phụng
Đọc Số Đỏ, người ta không khỏi kinh ngạc trước một bút lực dồi dào, sắc sảo và điêu luyện đến kinh ngạc của một thanh niên mới bước vào tuổi 24. Vũ Trọng Phụng sử dụng nghệ thuật phóng đại (Caricature) và kỹ thuật dàn dựng cảnh huống tương phản đạt tới trình độ bậc thầy thế giới, hoàn toàn có thể đặt ngang hàng với những tên tuổi trào phúng lẫy lừng như Molière của Pháp hay Gogol của Nga.
Ngôn ngữ trong Số Đỏ là sự hòa trộn kỳ diệu giữa khẩu ngữ đường phố sống động, tiếng lóng giang hồ với những thuật ngữ chính trị, triết học thời thượng bị bóp méo một cách hài hước. Mỗi nhân vật của ông chỉ cần xuất hiện vài dòng là đã đóng đinh vào tâm trí độc giả bằng một câu nói cửa miệng bất hủ: một cụ cố Hồng với "Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!"; một ông Phán Mọc Sừng với tiếng khóc "Hứt! Hứt! Hứt!"; một thầy Min Đơ, Min Toa rình mò phạt tiền; hay một sư cụ Tăng Phú mở miệng là "Mô Phật" nhưng tâm hồn chỉ nghĩ đến tiền bạc và danh vọng.
Thế nhưng, đằng sau chuỗi tiếng cười giòn giã ấy là một bi kịch đời thực vô cùng xót xa. Người viết nên thiên đại hài kịch làm say mê hàng triệu độc giả ấy lại là một người đàn ông cả đời sống trong cảnh nghèo túng cùng cực, phải viết thâu đêm suốt sáng để kiếm từng hào nhuận bút mua thuốc chữa bệnh cho mẹ già và bản thân. Câu nói cay đắng sau cùng của Vũ Trọng Phụng trên giường bệnh trước khi qua đời vào năm 1939: "Nếu mỗi ngày tôi có một miếng bít tết để ăn thì tôi đâu có phải chết sớm thế này!" mãi mãi là một vết cứa nhức nhối vào lương tri của thời đại.
Gấp sách lại: Sau gần một thế kỷ, chúng ta có thực sự "tiến bộ" hơn những nhân vật của Số Đỏ?
Gần một thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày Vũ Trọng Phụng đặt dấu chấm kết thúc cho bản thảo Số Đỏ. Hà Nội hôm nay đã thay da đổi thịt, những tiệm may Âu hóa hay sân quần Sầm Công thời Pháp thuộc đã lùi sâu vào dĩ vãng lịch sử. Thế nhưng, khi gấp cuốn sách lại và ngước mắt nhìn vào đời sống xã hội xung quanh, ta bỗng giật mình tự hỏi: Liệu Xuân Tóc Đỏ đã thực sự biến mất?
Câu trả lời đáng buồn là: Không. Những "Xuân Tóc Đỏ" thời nay không còn đi bán thuốc lậu hay nhặt ban sân quần, mà chúng xuất hiện lộng lẫy trên các nền tảng mạng xã hội, tự xưng là "chuyên gia phong cách sống", "thầy dạy làm giàu", "người truyền cảm hứng" với hàng triệu lượt theo dõi. Những phong trào "làm màu", chạy theo trào lưu vô bổ nhân danh sự tiến bộ, những màn khoe mẽ đạo đức giả, những đám đông dễ dãi tung hô những kẻ bất tài chỉ vì vài câu nói giật gân... tất cả chẳng phải là sự tái sinh trớ trêu của xã hội trong Số Đỏ đó sao?
Lắng nghe tiếng cười trào lộng của Vũ Trọng Phụng vì thế chưa bao giờ là một bài tập khảo cổ văn học buồn tẻ. Tác phẩm vẫn như một tấm gương phản chiếu sắc lạnh, buộc mỗi người đọc chúng ta phải tự soi lại bản thân để không bị cuốn vào những cơn mê sảng của hư danh, để biết bật cười giễu nhại trước những điều lố bịch và giữ lại cho mình một chút tỉnh táo, lương tri giữa một thế giới vẫn chưa bao giờ thôi nhốn nháo.